Chương 39 đánh nghi binh 2.
Chương 39 đánh nghi binh 2.
Trần Thái An hành quân mất hai ngày thì đã áp sát biên giới Đại Đường. Họ cách thành Nam Xa của Đại Đường hơn 20 km. Hắn lúc này cho Quân đóng trại tại đây và bắt đầu cử thám báo tìm kiếm tình hình. Đồng thời sự có mặt của một vạn quân Đại Việt tại đây, cũng nhanh chóng bị các thám báo của Đại Đường phát hiện.
Lúc này trên tường thành Nam Xa Lý Tĩnh và Tần Quỳnh đang bàn bạc với nhau về tình hình quân Đại Việt cách thành không xa.
– Tần Quỳnh ngươi nói xem quân Đại Việt rốt cuộc có hiểu ý nghĩa của cuộc chiến này hay không.
Tần Quỳnh nghe Lý Tĩnh nói vậy thì suy nghĩ một lúc sau đó nở nụ cười nói rằng
– Người hỏi ta ta biết hỏi ai đây . Dù sao ta cũng không phải là Trần Thiên Ân. Nhưng hiện nay quân Đại Việt vậy mà lại điều động quân đến đây gây hấn. Ta sợ rằng Trần Thiên Ân thật sự không hiểu ý nghĩa của cuộc chiến này. Nếu như hắn muốn hỗ trợ đột quyết cùng với quân ta giao chiến thì tổn thất của nước ta sẽ rất lớn. Dù sao giao chiến trong một địa hình có lợi cho kỵ binh như này, chính là điểm yếu của quân Đại Đường.
Lý Tĩnh nghe Tần Quỳnh nói vậy thì cũng gật đầu. Phải biết rằng trong chiến tranh địa hình ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát huy sức mạnh của từng loại quân đội của mỗi quốc gia. Đặc biệt địa hình cũng ảnh hưởng đến việc các quốc gia sở hữu lực lượng binh lực mạnh như thế nào.
Các nước Trung Nguyên thường phát triển lực lượng quân sự đồng đều. Bọn họ phát triển theo hướng tinh nhuệ từng đội quân một. Nói dễ nghe hơn chính là không phải chuyên chế một đội quân toàn bộ đều là tinh nhuệ. Mà là mỗi một chủng binh lính đều xuất hiện ra một nhóm tinh luyện. Việc này giúp họ có thể chiến đấu trong mọi loại địa hình từ đồng bằng đồi núi hay là trên nước.
Có điều khác với người Trung Nguyên, các dân tộc Thảo Nguyên lại phát triển quân đội theo hình thức kỵ binh là chính. Thậm chí nhiều bộ tộc còn không có bộ binh. Nguyên nhân chính là do địa hình thảo nguyên bằng phẳng. Ngoài ra việc bọn họ đều là dân du mục và chiến mã rất nhiều tại khu vực này. Nó làm cho bọn họ loại trừ các phương hướng phát triển quân sự như bộ binh.
Việc phát triển phương hướng quân đội như thế này cũng tạo ra nhiều điểm khó khăn và thuận lợi cho từng thế lực. Chẳng hạn như các nước Trung Nguyên. Với việc quân lực của họ được bố trí đồng đều sẽ làm họ có khả năng chiến đấu trong mọi loại địa hình. Còn đối với quân Thảo Nguyên việc phát triển kỵ binh điểm thuận lợi lớn nhất của họ chính là lúc chiến đấu trong địa hình bằng phẳng. Thì không một lực lượng nào có thể trực tiếp đương đầu với họ mà không bị tổn thất nặng nề.
Những điểm yếu của nó lại quá rõ ràng. Các nước trung nguyên phát triển đồng đều các quân lực . Thì có nghĩa là các đội quân của họ không có khả năng mạnh vượt trội so với kẻ thù. Chẳng hạn như một tổ hợp quân đội bao gồm bộ binh và kỵ binh kết hợp, giao chiến trên một địa hình bằng phẳng với lực lượng kỵ binh của người Thảo Nguyên. Thì kết quả chính là người Thảo Nguyên có thể sử dụng lực lượng kỵ binh của mình. Hoặc là cường công trực tiếp vào đội hình của bộ binh. Hoặc họ có thể không ngừng quấy rối làm tiêu hao sinh lực của quân địch.
Nhưng các kỵ binh Thảo Nguyên lại gặp rất nhiều vấn đề . Do việc họ không thể nào biến đổi các hình thức tấn công khác được. Bọn họ ngoài việc có thể sử dụng kỵ binh quấy rối và đột kích. Lại không thể nào chiến đấu trên nhiều địa hình khác nhau. Chẳng hạn như kỵ binh không thể nào lên núi tác chiến hoặc cũng không thể nào nhảy xuống sông tác chiến được. Vì điểm yếu này mà các nước trung nguyên thường xây dựng hệ thống thành trì . Một phần có thể ngăn cản kẻ thù. Một phần chính là gia tăng lợi thế cho quân phòng thủ.
Có điều mặc dù phát triển chuyên hướng một loại binh lực, sẽ làm đội quân đó không thể chiến đấu trên nhiều mặt trận và địa hình khác biệt. Nhưng không thể nào phủ nhận được sức mạnh của đội quân đó . Trong một địa hình phù hợp như Thảo Nguyên thích hợp cho kỵ binh xung phong như này là vô địch. Điều này đã làm cho Lý Tĩnh cũng đau đầu khi không hiểu Trần Thiên Ân nghĩ gì . Lại muốn cùng quân Đường liều chết tại đây.
Phải biết rằng Đại Đường cũng giống các nước khác của Trung Nguyên. Họ đều phát triển binh lực theo hướng đồng đều. Ngoài ra Đại Đường cũng không có quá nhiều kỵ binh . Dù sao chiến mã là một thứ vô cùng đắt đỏ và bị đám người Thảo Nguyên kiểm soát vô cùng khắt khe. Hiện giờ bất kể là 30 vạn quân của Trần Thiên Ân hay là 50 vạn quân của người Mông Cổ và 25 vạn quân của người đột quyết thì tất cả chúng đều là kỵ binh.
Còn quân Đường tuy rằng tập trung tại biên giới phía tây đến gần 80 vạn người. Nhưng trong số đó chỉ có chưa đến 10 vạn kỵ binh. Việc này làm cho bọn họ phòng thủ thành trì thì vô cùng tốt. Nhưng chiến đấu trong một địa hình bằng phẳng cho kỵ binh xung phong thì lại là một điểm yếu chí mạng của Đại Đường lúc này. Vì việc này cho nên đám người Lý Tĩnh cũng phải đắn đo xem Trần Thiên Ân rốt cuộc có ý định gì với 30 vạn kỵ binh của mình tại đây. Dù sao họ cũng không muốn mang 80 vạn quân hỗn hợp của mình. Giao chiến cùng với mấy chục vạn kỵ binh tại một địa hình thích hợp cho kỵ binh xung phong như lúc này. Đây là một hành động không khác gì tự sát là bao.
– Tần Quỳnh ngươi hãy dẫn theo hai vạn kỵ binh xua đuổi đám kỵ binh kia đi. Dù sao để chúng ở đó ta cũng không yên tâm.
Tần Quỳnh nghe Lý Tĩnh nói vậy thì lúc này hắn cũng gật đầu. Sau đó tập hợp hai vạn kỵ binh bắt đầu ra khỏi thành tấn công một vạn kỵ binh của Trần Thái An. Hành động điều động quân đội của Đại Đường cũng nhanh chóng được các thám báo của Đại Việt phát hiện và gửi về chỗ Trần Thái An.
– Bẩm lạc tướng quân Đường đang điều động quân hướng về phía chúng ta.
Thám báo vừa báo cáo tình hình thì lúc này Trần Thái An mỉm cười . Sau đó quay đầu nói với mấy phó tướng của mình rằng:
– Truyền lệnh toàn quân lấy ra loại nỏ liên châu chuẩn bị tấn công.
-Tuân lệnh.
Sau mệnh lệnh của Trần Thái An lúc này toàn bộ một vạn kỵ binh Đại Việt bắt đầu chuẩn bị vũ khí. Lần này Trần Thiên Ân đã trang bị hai vạn loại nỏ bắn liên tục cho đám người Trần Quốc Toản mang ra chiến trường thử nghiệm. Hắn đặt tên cho loại nỏ này là nỏ Liên Châu. Trần Thiên Ân quy định mỗi binh lính sử dụng nỏ liên châu đều sẽ được phân vào lực lượng cung kỵ binh. Tất binh lính này sẽ được biên chế ngoài áo giáp và chiến mã thì được trang bị thêm một thanh đoàn kiếm ngắn 1,2 m mang theo người. Một cây nỏ Liên Châu, cùng với ba hộp tên. Mỗi hộp có 20 mũi tên.
Tổng trọng lượng mà mỗi binh sĩ mang theo người vào tầm khoảng 25 kg. Cộng với việc cân nặng của mỗi chiến sĩ tầm 65 đến 70 cân. Tổng số trọng lượng mà chiến mã phải mang vác vào khoảng xấp xỉ 100 kg. Đối với việc này thì các chiến mã cho cung kỵ binh tuyệt đối có thể mang họ chinh chiến đường dài được. Dù sao những chiến mã mà các cung kỵ binh sử dụng đều là loại tốt nhất. Nó không chỉ có khả năng chịu đựng tốt . Sức khỏe và sự bền bỉ của chiến mã cũng không hề thua kém.
Đợi khi quân lính Đại Việt chuẩn bị xong vũ khí và sẵn sàng chiến đấu. Thì lúc này ở phía xa hai vạn kỵ binh do Tần Quỳnh dẫn đầu cũng đã đến đây. Đợi khi hai quân cách nhau chưa đến 500 m thì các kỵ binh của Đại Việt bắt đầu bỏ chạy. Tần Quỳnh nhìn thấy cảnh này thì chỉ cười lạnh và cho rằng đám này đến đây để đánh nghi binh . Nên không thèm nghĩ nhiều lập tức hạ lệnh cho quân lính đuổi theo.
– Tiến lên giết hết bọn chúng.
Sau mệnh lệnh của Tần Quỳnh, các binh lính Đại Đường lập tức phóng ngựa đuổi theo đám quân Đại Việt đang bỏ chạy kia. Có điều tốc độ kỵ binh của Đại Việt vẫn rất tốt và luôn duy trì khoảng cách 500 m so với quân Đại Đường. Truy đuổi hơn một giờ đồng hồ mà vẫn không đuổi kịp đám quân của Trần Thái An dẫn đầu . Thì lúc này Tần Quỳnh cũng quyết định quay đầu trở về thành. Dù sao thì thể lực của chiến mã có hạn. Tần Quỳnh cũng không muốn quân của hắn truy đuổi quá sâu vào trong lãnh thổ của người đột quyết vì sẽ dễ dàng bị mai phục.